Chu kỳ kinh tế hay còn gọi là chu kỳ kinh doanh là sự biến thiên của GDP thực tế theo 3 giai đoạn: suy thoái, phục hồi và bùng nổ (boom). Theo một số người, giai đoạn phục hồi chỉ là thứ yếu, nên chu kỳ kinh doanh chỉ có hai giai đoạn chính: suy thoái và hưng thịnh (hoặc mở rộng).
- Các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh như sau:
- Suy thoái là giai đoạn khi GDP thực giảm. Tại Hoa Kỳ và Nhật Bản, một cuộc suy thoái được tuyên bố khi tăng trưởng GDP thực tế âm trong hai quý liên tiếp.
- Giai đoạn phục hồi là khi GDP thực trở lại mức trước suy thoái. Đáy của chu kỳ kinh doanh đánh dấu sự chuyển đổi giữa hai giai đoạn này.
- Nền kinh tế đang trong giai đoạn bùng nổ (hoặc bùng nổ) khi GDP thực tế tiếp tục tăng trưởng và tiến gần đến mức trước suy thoái. Sự kết thúc của giai đoạn bùng nổ mở ra một giai đoạn suy thoái mới. Đỉnh cao của chu kỳ kinh tế là sự chuyển đổi từ giai đoạn hưng thịnh sang giai đoạn suy thoái mới.
Thông thường, người ta chỉ nhận ra đáy và đỉnh của chu kỳ kinh tế khi nền kinh tế đã bước sang giai đoạn tiếp theo sau bước ngoặt, thể hiện qua tốc độ tăng trưởng GDP thực đảo chiều giữa mức âm và dương. Thật vậy, các nhà kinh tế cố gắng xác định các dấu hiệu cảnh báo về suy thoái kinh tế vì chúng có tác động tiêu cực đến tất cả các khía cạnh của nền kinh tế và xã hội. Một cuộc suy thoái thường có các đặc điểm sau:
- Tiêu thụ giảm mạnh, trong khi tồn kho hàng lâu bền của doanh nghiệp tăng bất ngờ. Kết quả là, các nhà sản xuất giảm sản xuất, làm giảm đầu tư vào thiết bị và nhà máy, và GDP thực giảm.
- Cầu lao động giảm, đầu tiên là giảm số ngày làm việc của người lao động, sau đó là giảm công nhân và tỷ lệ thất nghiệp cao.
- Khi sản lượng giảm, lạm phát chậm lại do giá đầu vào sản xuất giảm do nhu cầu yếu. Giá dịch vụ khó giảm nhưng cũng không tăng nhanh trong thời kỳ suy thoái.
- Khi chu kỳ kinh doanh bước vào giai đoạn đi xuống, lợi nhuận của công ty và giá cổ phiếu thường giảm. Nhu cầu vốn cũng giảm, khiến lãi suất giảm trong thời kỳ suy thoái.
Khi nền kinh tế đang hoạt động tốt, các chỉ số trên sẽ dịch chuyển theo hướng ngược lại.
Trong lịch sử, một chu kỳ kinh doanh được cho là có bốn giai đoạn: suy thoái, khủng hoảng, phục hồi và bùng nổ. Khi bàn về chu kỳ kinh tế ở Việt Nam, một số sách về kinh tế các nước tư bản đề cập đến bốn giai đoạn đó là khủng hoảng, suy tàn, phục hồi và thịnh vượng.
Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện đại, các cuộc khủng hoảng theo nghĩa nền kinh tế trở nên thối nát, thất nghiệp tràn lan, các nhà máy đóng cửa, v.V., Hiếm khi xảy ra do sự can thiệp của chính phủ. Do đó, một số lý thuyết mới chỉ thảo luận về ba giai đoạn suy thoái-phục hồi-thịnh vượng. Toàn bộ thời kỳ suy giảm GDP, tức là khi nền kinh tế ký hợp đồng, được gọi là suy thoái.
Chu kỳ kinh doanh là những biến động không thể đoán trước. Không có hai chu kỳ kinh doanh nào hoàn toàn giống nhau, và cũng không tồn tại công thức hay phương pháp nào để dự đoán chính xác thời điểm và thời điểm diễn ra các chu kỳ kinh tế. Do đó, chu kỳ kinh tế, đặc biệt là giai đoạn suy thoái, sẽ là thách thức đối với cả khu vực công và khu vực tư nhân. Khi suy thoái xảy ra, sản lượng giảm, tỷ lệ thất nghiệp tăng và thị trường bị thu hẹp, từ hàng hóa và dịch vụ đến thị trường vốn…, Tất cả đều gây ra những hậu quả tiêu cực về kinh tế và xã hội.
- Chu kỳ kinh tế nguyên nhân và biện pháp đối phó


Chu kỳ kinh tế khiến khu vực tư nhân và kế hoạch kinh tế của chính phủ khó có thể cùng tồn tại. Việc làm và lạm phát cũng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh doanh. Trong thời kỳ suy thoái, nền kinh tế và xã hội phải gánh chịu những thiệt hại và chi phí to lớn. Do đó, nhà nước đã giao nhiệm vụ chống chu kỳ. Tuy nhiên, do cách giải thích nguyên nhân mang tính chu kỳ khác nhau giữa các trường phái kinh tế vĩ mô nên các biện pháp chống chu kỳ mà họ đề xuất cũng khác nhau.
- Theo thuyết Keynes, chu kỳ kinh doanh là do thị trường không hoàn hảo gây ra, khiến tổng cầu dao động. Do đó, biện pháp chống chu kỳ là thực hiện chính sách quản lý tổng cầu. Khi nền kinh tế suy thoái, các chính sách tài khóa và tiền tệ lỏng lẻo nên được thực hiện. Khi kinh tế phát triển, các chính sách đó chuyển sang thắt chặt. Hình 1 mô tả suy thoái do tổng cầu giảm: tổng cầu dịch chuyển từ AD sang AD”gige64yszu” và giá giảm từ P xuống P” (lạm phát giảm).
- Theo các trường phái tân tự do, các chu kỳ được gây ra bởi sự can thiệp của chính phủ hoặc những cú sốc nguồn cung bất ngờ. Do đó, để tránh một chu kỳ và cho phép nền kinh tế nhanh chóng điều chỉnh theo các cú sốc cung, chính phủ nên hạn chế can thiệp. Hình 2 minh họa suy thoái do tổng cung giảm: vì một số lý do (ví dụ: giá đầu vào tăng đột biến) tổng cung giảm từ AS xuống AS’ khiến cho sản lượng giảm từ Q xuống Q’ nhưng giá tăng từ P lên P” ( lạm phát tăng) ( lạm phát tăng).
Sau đây là một số lý thuyết chính giải thích nguyên nhân của chu kỳ kinh doanh:
- Lý thuyết tiền tệ cho rằng chu kỳ kinh tế được gây ra bởi những thay đổi trong chính sách tiền tệ và tín dụng. Milton Friedman, người đứng đầu trường kinh tế học Chicago, người đoạt giải Nobel kinh tế năm 1976, là đại diện tiêu biểu của lý thuyết này. Lý thuyết này tỏ ra phù hợp với thời kỳ suy thoái của nền kinh tế Mỹ từ năm 1981 đến năm 1982, khi Cục Dự trữ Liên bang tăng lãi suất danh nghĩa lên 18% để chống lạm phát.
- Mô hình số nhân gia tốc, do Paul Samuelson đề xuất, giả định rằng các biến động ngoại sinh được lan truyền bởi cơ chế số nhân kết hợp với gia tốc đầu tư để tạo ra các biến động theo chu kỳ trên thị trường chứng khoán. GDP.
- Lý thuyết chính trị được đại diện bởi các nhà kinh tế như William Nordhaus, Micha Kalecki và những người khác. Lý thuyết này đổ lỗi cho các chính trị gia về chu kỳ kinh doanh vì họ chỉ đạo các chính sách tài chính và tiền tệ nhằm giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử.
- Các đại diện như Robert Lucas, Jr., Robert Barro và Thomas Sargent đã tuyên bố rằng những quan niệm sai lầm về sự chuyển động của giá cả và tiền lương đã khiến nguồn cung lao động tăng lên. Quá nhiều hoặc quá ít hành động dẫn đến sản lượng và chu kỳ việc làm. Theo một phiên bản của lý thuyết này, tỷ lệ thất nghiệp cao trong thời kỳ suy thoái là do tiền lương thực tế của người lao động cao hơn mức cân bằng của thị trường lao động.
- Lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực cho rằng những biến động tích cực hoặc tiêu cực của năng suất lao động trong một lĩnh vực có thể gây ra những biến động mang tính chu kỳ trong nền kinh tế. Các nhà kinh tế như Edward Prescott và Charles Prosser là những người ủng hộ lý thuyết này.
Tuy nhiên, trong khi mỗi lý thuyết trên đều hợp lý, không có lý thuyết nào trong số chúng luôn đúng và ở mọi nơi.
Quan sát các chu kỳ kinh tế ở các nền kinh tế công nghiệp tiên tiến ngày nay cho thấy giai đoạn suy thoái đang trở nên ngắn hơn và nhẹ hơn xét trên khía cạnh thu hẹp GDP thực tế. Một trong những lý do quan trọng nhất là chính phủ các nước này đã nâng cao hiểu biết và áp dụng kinh tế học vĩ mô. Nhà nước có thể ngăn chặn một cuộc suy thoái trở thành một cuộc khủng hoảng bằng cách kết hợp chính sách tài chính và tiền tệ. Vòng luẩn quẩn kinh doanh tàn phá chủ nghĩa tư bản trong những ngày đầu của nó đã được giảm thiểu, nhưng không bị loại bỏ.
- Dự báo chu kỳ kinh doanh
Các nhà kinh tế đã làm việc để tạo ra và cải thiện các công cụ dự báo những thay đổi kinh tế. Các mô hình cơ bản nhất dựa trên các dữ liệu dễ thu thập như sản lượng của một số tư liệu sản xuất quan trọng (thép,…), Khối lượng hàng hóa vận chuyển… Rồi lập các số liệu thống kê để đưa ra chỉ số. Người ta dần dần xây dựng các mô hình kinh tế lượng phức tạp với hàng vạn biến số và các hệ phương trình phức tạp để dự đoán khi công nghệ thông tin ngày càng tiên tiến. Các nhà kinh tế Jan Tinbergen và Lawrence Klein là những người sớm áp dụng các công cụ dự báo. Nhờ đó, việc dự báo những biến động kinh tế vĩ mô đã trở nên đáng tin cậy hơn, mặc dù vẫn chưa đạt độ chính xác cao khi có những thay đổi lớn về chính sách.
- Các loại chu kỳ kinh doanh khác nhau
Kinh tế học cũng đề cập đến chu kỳ Juglar, chu kỳ Kuznets, chu kỳ Kondratiev và chu kỳ Nhà bếp, ngoài chu kỳ kinh doanh được mô tả ở trên. Tuy nhiên, do không còn phù hợp với điều kiện hiện đại nên các chu kỳ này ít được sử dụng để mô tả các xu hướng biến động của nền kinh tế.
Chính sách kinh tế Theo Mác-Lênin, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa có 4 giai đoạn: khủng hoảng, suy tàn, phục hồi và hưng thịnh.
